Đăng nhập
Ký danh
Mật khẩu
Đăng nhập
Quên mật khẩu?       Đăng ký
Quảng cáo
• Tất niên và mừng xuân Mậu Tuất 2018    • Lời chúc Tết Âm lịch Mậu Tuất gửi đến Quý Thầy Cô giáo    • Đại hội Hội Tiêu hoá TT-Huế 2018    • Thông báo số 1 Hội nghị Nội khoa miền Trung lần II    • Lời chúc Tết Dương lịch 2018 gửi đến Quý Thầy Cô giáo     • Giáng sinh cùng CLB Anh văn Nội khoa - IMEC     • Kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 năm 2017    • Chúc mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11    • Kế hoạch sinh hoạt NCS đợt 2.2017    • Hội nghi Tim mạch miền Trung mở rộng 2017    • Thông báo tham dự CME và Hội nghị Nội khoa toàn quốc 2017 cho các học viên sau đại học    • Giấy mời Hội nghị nội khoa toàn quốc 2017    • Thông báo số 2 Hội nghị Nội khoa toàn quốc 2017    • Thông báo số 3 Hội thảo Tiêu hóa - Nội soi miền Trung 2017    • Thông báo số 1 Hội nghị Nội khoa toàn quốc 2017    • Thư mời tài trợ HN Nội khoa toàn quốc 2017    • CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2017    • Hội nghị Tim mạch Đức Việt    • Giấy mời Hội thảo Nghiên cứu sinh Bộ môn Nội tháng 11/2016    • GS Huỳnh Văn Minh nhận giải thưởng ISH 2016    • Hai Thầy Cô giáo BM Nội được trao tặng Huân chương lao động     • CHUC MUNG NAM MOI 2016    • Hội nghị Tim mạch miền Trung mở rộng    •  CHUNG KẾT CUỘC THI ĐỐ VUI NỘI KHOA 2015    • Hội thảo Nghiên cứu sinh Bộ môn Nội    • Diễn đàn các nhà Nội khoa trẻ 2015    • Hội nghị Nội khoa miền Trung mở rộng 2015    • TUẦN LỄ NỘI KHOA 2015    • Bộ môn Nội nhận cờ thi đua nhân dịp lễ khai giảng 2015-2016    • Nghiên cứu sinh Hoàng Trọng Hanh đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ cấp Đại học Huế    • Đại hội Tim mạch lần 2 của Hội Tim mạch Thừa thiên Huế    • HỘI THẢO TIÊU HÓA-NỘI SOI MIỀN TRUNG MỞ RỘNG NĂM 2015    • GS.TS. Hoàng Trọng Thảng và PGS.TS. Hoàng Anh Tiến vừa được nhận chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư 2014    • Bộ môn Nội vinh dự có thêm 2 nhà giáo ưu tú được nhà nước phong danh hiệu năm 2014    • Hội nghị Tim mạch quốc gia lần 14 tại Đà nẵng    • Hội nghị tăng huyết áp Việt nam lần thứ I    • CHÚC MỪNG NĂM MỚI GIÁP NGỌ 2014    • Bộ môn Nội có thêm Phó giáo sư Hoàng Viết Thắng    • CHÚC MỪNG NĂM MỚI QUÝ TỴ 2013 VẠN SỰ NHƯ Ý    • Tiến sĩ Hoàng Anh Tiến được trao giải thưởng Quả Cầu Vàng 2012    • Lễ kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Trường đại học Y Dược Huế và Đại học Huế    • Bộ môn Nội vinh dự có thêm thầy Trần Hữu Dàng được phong học hàm Giáo sư    • Trường đại học Y Dược Huế được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động    • Bệnh viện Trung ương Huế thực hiện thành công ca ghép tim đầu tiên    
Nghiên cứu những biến đổi hình thái, chức năng thất phải và áp lực động mạch phổi ở những bệnh nhân bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

TS. BS. Nguyễn Cửu Long, Bộ môn nội, Đại Học Y Khoa Huế


 

Tóm tắt (Abstract): Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là một trong những bệnh hô hấp thường gặp. Biến chứng của BPTNMT thường là tâm phế mạn (TPM).

Mục tiêu (Objective): Đánh giá những biến đổi về hình thái, chức năng thất phải và áp lực động mạch phổi bằng siêu âm Doppler tim ở những bệnh nhân bị BPTNMT. Tìm mối tương quan giữa các thông số siêu âm Doppler tim với các thông số thông khí phổi và khí máu động mạch.

Phương pháp (Method): Gồm 118 người, 48 người bình thường, 70 BPTNMT ở giai đoạn ổn định, nhịp xoang, phân loại giai đoạn thông khí phổi theo của ATS 1995. PaO2, PaCO2 được đo bằng máy AVL compact 1 gas analyzer. Các thông số siêu âm Doppler tim được đo bằng máy siêu âm Doppler màu AU4 Ideal của hãng Siemens, đầu dò sector điện tử 2.5 MHz. Các thông số siêu âm nghiên cứu: về hình thái thất phải: bề dày thành thất phải, đường kính tâm trương thất phải, động mạch phổi. Các thông số Doppler xung: VE, VA,VA/VE, thời gian giãn đồng thể tích thất phải (theo Larrazet F 1997), chỉ số Tei thất phải (theo Tei C 1996), thời gian tăng tốc, thời gian tăng tốc / thời gian tống máu thất phải và cung lượng tim phải. Đo áp lực tâm thu động mạch phổi bằng Doppler liên tục theo công thức PAPs=4Vmax2+10mmHg (TAP khi PAPs>35mmHg). Xử lý số liệu: SPSS 10.0 for Windows.

Kết quả (Results): BPTNMT có TAP chiếm tỷ lệ cao (68.57%). Có những biến đổi về hình thái thất phải và động mạch phổi nhóm BPTNMT (p<0.01) nhất là nhóm TAP so với nhóm chứng (p<0.001). Biến đổi chức năng thất phải sớm ở nhóm BPTNMT không TAP so với nhóm chứng (p<0.02) càng rõ nét ở nhóm TAP (p<0.001) và giữa hai nhóm TAP và không TAP (p<0.001). Cung lượng thất phải tăng có ý nghĩa ở nhóm BPTNMT so với nhóm chứng (p<0.001). Có mối tương quan từ vừa đến chặt chẽ giữa PAPs với các thông số siêu âm Doppler tim (|r|=0.38-0.76, p=0.007-<0.001), giữa các thông số siêu âm Doppler về hình thái, chức năng thất phải theo phân loại giai đoạn ATS (|r|=0.48-0.92, p<0.05-0.001) và giữa các thông số thông khí phổi, PaO2, PaCO2 (|r|=0.23-0.54, p<0.05-0.01).

Kết luận (Conclusion): Siêu âm Doppler tim cho phép đánh giá những biến đổi sớm về hình thái, chức năng thất phải và áp lực động mạch phổi ngay cả khi chưa có TAP và càng rõ nét khi có TAP ở bệnh nhân BPTNMT.     

 

Nguồn: Bộ môn Nội - Trường Đại học Y Dược Huế
Các bài viết khác: